HaGiang.orgHà Giang
Chè Shan tuyết, nông sản và kinh tế

Du lịch cộng đồng ở Hà Giang như một sinh kế: ai hưởng lợi, đổi thay gì ở bản

Du lịch cộng đồng đã thành nguồn thu của nhiều thôn bản vùng Hà Giang cũ: dòng tiền đi đâu, việc làm nào sinh ra, tính mùa vụ, chia sẻ lợi ích và đổi thay ở bản.

A Tay village of stilt houses beside rice fields at the foot of mountains, a villager carrying firewood along a stone path, morning smoke rising from a kitchen

Du lịch cộng đồng, nơi người dân trong thôn bản tự đón khách ở nhà mình, nấu ăn, dẫn đường, biểu diễn văn nghệ và bán sản phẩm địa phương, đã trở thành một nguồn thu đáng kể ở nhiều nơi trong vùng Hà Giang cũ, như các thôn Lô Lô Chải ở Lũng Cú, Nặm Đăm ở Quản Bạ cùng nhiều thôn khác. Ở những thôn làm tốt, du lịch giúp người trẻ có việc tại chỗ, giữ được nghề truyền thống và nếp nhà.

Nhưng du lịch cũng mang tới những thay đổi không phải lúc nào cũng dễ chịu: lợi ích không đều giữa các hộ, mùa đông khách thì quá tải, mùa vắng thì không có thu nhập, nếp sống bị xáo trộn. Bài này nhìn du lịch cộng đồng như một ngành kinh tế ở cấp thôn bản. Nó không hướng dẫn mở homestay (phần kinh doanh nằm ở mục doanh nghiệp của trang), không nêu giá và không khuyên đầu tư.

Du lịch cộng đồng khác du lịch thông thường ở điểm nào

Trong mô hình du lịch thông thường, khách ở khách sạn, ăn ở nhà hàng, đi tour do công ty tổ chức; người dân địa phương phần lớn đứng ngoài, hoặc tham gia ở vai trò làm thuê. Du lịch cộng đồng đặt người dân vào trung tâm: khách ở trong nhà dân hoặc nhà do cộng đồng quản lý, ăn cơm chủ nhà nấu, đi bộ theo người trong bản dẫn, mua trực tiếp sản phẩm từ người làm.

Về lý thuyết, mô hình này giúp tiền từ du lịch ở lại thôn bản nhiều hơn, đồng thời khuyến khích giữ gìn kiến trúc nhà truyền thống, trang phục, nghề thủ công, món ăn và lễ hội, vì đó chính là những gì khách đến để xem. Trên thực tế, mức độ thành công rất khác nhau giữa các thôn, phụ thuộc vào vị trí, cách tổ chức, sự hỗ trợ ban đầu và đặc biệt là sự đồng thuận trong cộng đồng.

Ở vùng Hà Giang cũ, du lịch cộng đồng thường gắn với những thôn có nhà truyền thống còn giữ được, như nhà trình tường của người Lô Lô, người Mông trên cao nguyên đá, hay nhà sàn của người Tày ở vùng thung lũng. Nhiều thôn được hỗ trợ từ các chương trình phát triển du lịch, các dự án xây dựng làng văn hoá du lịch.

Dòng tiền du lịch trong một thôn: ai nhận được gì

Bảng dưới mô tả các nguồn thu thường gặp ở một thôn làm du lịch cộng đồng. Tỷ lệ và cách chia phụ thuộc vào cách tổ chức của từng thôn:

Hoạt độngAi thường nhận đượcGhi chú
Lưu trú tại nhà dânHộ có nhà đủ điều kiện đón kháchCần vốn sửa nhà, nhà vệ sinh, chăn đệm
Nấu ăn cho kháchHộ đón khách hoặc nhóm nấu chungTạo việc cho phụ nữ, người lớn tuổi
Dẫn đường, chở kháchThanh niên trong bảnThu nhập theo mùa khách
Biểu diễn văn nghệĐội văn nghệ của thônThường chia theo đội hoặc vào quỹ thôn
Bán sản phẩm thủ công, nông sảnHộ làm nghề, hộ có nông sảnGiúp những hộ không đón khách cũng có thu
Phí tham quan, quỹ cộng đồngQuỹ chung của thônDùng làm đường, vệ sinh, hỗ trợ hộ khó khăn tuỳ quy ước

Điểm mấu chốt của du lịch cộng đồng là làm sao để những hộ không có nhà đẹp hay vị trí thuận lợi cũng được hưởng phần nào. Quỹ chung, luân phiên đón khách, nhóm nấu ăn chung, hợp tác xã bán sản phẩm là những cách mà nhiều thôn đã thử.

Việc làm tại chỗ: điều quan trọng nhất du lịch có thể mang lại

Ở nhiều thôn vùng cao, thanh niên rời bản đi làm ở các khu công nghiệp xa, để lại người già và trẻ nhỏ. Du lịch, ở những nơi làm được, tạo ra một số việc làm ngay tại quê: dẫn đường, lái xe, nấu ăn, quản lý homestay, làm nhiếp ảnh, bán hàng trực tuyến cho sản phẩm địa phương. Một số người trẻ đi làm xa đã quay về để làm du lịch ở quê.

Du lịch cũng giúp phụ nữ có thêm thu nhập riêng từ nấu ăn, dệt vải, thêu, bán hàng. Với nhiều phụ nữ vùng cao, đây là lần đầu có khoản thu bằng tiền mặt do chính mình làm ra, điều có thể thay đổi vị thế trong gia đình.

Những người già trong bản cũng có chỗ đứng mới: họ là người kể chuyện, dạy khách thổi khèn, dệt vải, nấu món truyền thống. Tri thức vốn chỉ được truyền trong nhà nay trở thành thứ có giá trị với người ngoài, và đôi khi chính điều đó khiến người trẻ trong bản chịu ngồi học lại từ ông bà.

Tuy vậy, không nên thổi phồng. Số việc làm du lịch ở mỗi thôn có hạn, phụ thuộc lượng khách. Những thôn ở xa tuyến chính, ít điểm nhấn, có thể không thu hút được bao nhiêu khách dù đã đầu tư. Du lịch là một sinh kế bổ sung, hiếm khi thay thế hoàn toàn nông nghiệp.

Tính mùa vụ: thách thức lớn của du lịch vùng cao

Mùa cao điểm quá tải. Khách tập trung vào mùa hoa tam giác mạch, mùa lúa chín, các dịp lễ, cuối tuần. Lúc ấy nhà dân, đường sá, nguồn nước, rác thải đều chịu áp lực. Một số homestay nhận quá số khách có thể phục vụ tốt.

Mùa vắng không có thu nhập. Mùa mưa, mùa rét đậm, ngày thường giữa tuần lượng khách giảm mạnh. Hộ đã vay vốn sửa nhà đón khách vẫn phải trả nợ dù không có khách.

Trùng với mùa vụ nông nghiệp. Mùa khách đông có khi trùng mùa gặt, mùa thu hoạch; gia đình phải chia sức giữa đồng ruộng và đón khách.

Phụ thuộc thời tiết và tin tức. Một đợt mưa lũ, sạt lở hay thông tin tiêu cực trên mạng có thể làm khách huỷ hàng loạt trong thời gian ngắn.

Cách các thôn đang ứng phó. Một số nơi giới hạn số khách mỗi đêm, giới thiệu khách sang hộ khác khi nhà mình đã kín, phát triển hoạt động cho mùa vắng như đi bộ ngắm mây, học nấu ăn, trải nghiệm làm nông. Giữ ruộng nương song song với du lịch giúp gia đình không bị phụ thuộc hoàn toàn vào lượng khách.

Những đổi thay ở bản: không chỉ có mặt tốt

Khi một thôn bắt đầu đón khách, nhiều thứ thay đổi. Nhà được sửa, có nhà vệ sinh hiện đại, đường bê tông, điện chiếu sáng. Người dân học thêm tiếng Kinh, tiếng Anh, học nấu ăn hợp vệ sinh, quản lý sổ sách. Trẻ em được tiếp xúc với nhiều người từ nơi khác.

Nhưng cũng có những thay đổi đáng lo. Kiến trúc truyền thống có khi bị thay bằng nhà bê tông hay kiểu nhà “giống truyền thống” cho khách thích. Lễ hội, văn nghệ có nguy cơ trở thành tiết mục biểu diễn theo lịch khách hơn là sinh hoạt thật. Trẻ em bỏ học đi theo khách xin quà, bán hàng. Rác thải nhựa, tiếng ồn ban đêm, khách say rượu làm xáo trộn nếp sống yên tĩnh.

Khoảng cách giàu nghèo trong thôn cũng có thể tăng: hộ có vốn, có vị trí thuận lợi, biết tiếng thu được nhiều; hộ khác đứng ngoài. Nếu không có quy ước chung, mâu thuẫn trong cộng đồng có thể nảy sinh. Đây là những vấn đề mà các thôn làm du lịch lâu năm đã gặp và đang tìm cách giải quyết.

Điều gì giúp một thôn làm du lịch bền

Từ kinh nghiệm của nhiều thôn bản vùng núi phía bắc, một số yếu tố thường được nhắc tới khi bàn về du lịch cộng đồng bền vững:

  • Quy ước chung của thôn: về số khách tối đa, giờ giấc, ứng xử, giữ kiến trúc, cách chia quỹ chung. Quy ước do chính người dân bàn và thống nhất.
  • Ban quản lý du lịch cộng đồng: có người đại diện, có sổ sách rõ ràng, minh bạch thu chi quỹ.
  • Giữ cái thật: sinh hoạt, món ăn, lễ hội diễn ra như vốn có, mời khách tham gia chứ không dựng lại cho khách xem.
  • Đa dạng sinh kế: không bỏ ruộng nương để chỉ làm du lịch; du lịch là thu nhập bổ sung.
  • Đào tạo: kỹ năng đón khách, vệ sinh, an toàn thực phẩm, phòng cháy, sơ cứu, ngoại ngữ cơ bản.
  • Quản lý rác và nước: cao nguyên đá thiếu nước, khách đông dùng nước nhiều; rác phải có chỗ thu gom.
  • Liên kết với bên ngoài vừa phải: làm việc với công ty du lịch nhưng không để mất quyền quyết định về thôn mình.

Không có thôn nào làm hoàn hảo mọi điều trên. Nhưng những thôn giữ được sự đồng thuận và minh bạch thường đi được lâu hơn những thôn chỉ chạy theo số lượng khách.

Khách du lịch có thể góp phần thế nào

Khách du lịch không phải người ngoài cuộc. Cách bạn chọn nơi ở, cách tiêu tiền, cách ứng xử ở bản đều ảnh hưởng tới việc du lịch cộng đồng có bền hay không. Ở nhà dân do người địa phương làm chủ, ăn cơm chủ nhà nấu, thuê người trong bản dẫn đường, mua sản phẩm trực tiếp từ người làm là cách để tiền đến đúng chỗ.

Tôn trọng quy ước của thôn: giờ giấc yên tĩnh, khu vực không được vào, cách chụp ảnh. Không cho trẻ em tiền hay kẹo để chụp ảnh, vì điều này khuyến khích trẻ bỏ học đi xin. Mang rác ra khỏi bản nếu không có chỗ thu gom, tiết kiệm nước ở vùng thiếu nước. Những điều cụ thể về phép ứng xử khi ở bản đã được nói trong mục văn hoá của trang.

Cuối cùng, hãy đến vào mùa vắng nếu có thể. Một vài nhóm khách trong mùa mưa hay ngày thường giữa tuần có ý nghĩa với thu nhập của một gia đình nhiều hơn bạn nghĩ, và bạn cũng có trải nghiệm yên tĩnh, gần gũi hơn.

Du lịch trong bức tranh kinh tế chung của vùng

Với vùng Hà Giang cũ, du lịch là một trong những ngành được kỳ vọng nhiều nhất trong nhiều năm qua, nhờ cao nguyên đá, ruộng bậc thang, văn hoá các dân tộc và hình ảnh những cung đường đã trở nên nổi tiếng. Du lịch kéo theo dịch vụ vận tải, lưu trú, ăn uống, bán lẻ, tạo nguồn thu cho cả những người không trực tiếp đón khách.

Sau khi tỉnh hợp nhất vào Tuyên Quang, du lịch của vùng cao nguyên đá được đặt cạnh các điểm đến khác của tỉnh mới như khu di tích lịch sử và các hồ lớn ở phía nam. Định hướng và quy hoạch cụ thể cho từng vùng do cơ quan nhà nước công bố; bài này không dự đoán tương lai của ngành. Điều chắc chắn là người dân ở các thôn bản vẫn là những người trực tiếp mang lại trải nghiệm mà khách tìm đến.

Câu hỏi thường gặp

Du lịch cộng đồng có thật sự giúp người dân thoát nghèo?

Ở một số thôn, du lịch giúp tăng thu nhập rõ rệt và tạo việc làm tại chỗ. Ở nơi khác, lợi ích nhỏ hoặc tập trung vào vài hộ. Kết quả phụ thuộc vào vị trí, lượng khách, cách tổ chức và cách chia sẻ lợi ích, không có công thức chung.

Làm sao biết homestay là của người địa phương?

Hỏi trực tiếp chủ nhà là ai, có phải người trong bản không. Homestay do người địa phương làm chủ thường do gia đình trực tiếp đón khách, nấu ăn. Đọc nhận xét của khách trước và hỏi người dẫn đường địa phương cũng giúp ích.

Vì sao một số bản đã thành “phố” du lịch?

Khi lượng khách tăng nhanh, nhà cửa, dịch vụ mọc lên theo nhu cầu, nhiều khi thiếu quy hoạch và quy ước chung. Kiến trúc và nếp sống thay đổi theo. Đây là thách thức mà các thôn và chính quyền đang tìm cách cân bằng.

Khách du lịch nên chi tiền thế nào cho có ích với bản?

Ở nhà dân, ăn cơm chủ nhà, thuê người trong bản dẫn đường, mua đồ thủ công và nông sản trực tiếp từ người làm, đóng góp vào quỹ cộng đồng nếu có. Tránh cho tiền trẻ em xin, tránh mua sản phẩm từ động vật hoang dã.

Mùa nào đi bản thì người dân cần khách nhất?

Thường là mùa vắng như mùa mưa hay ngày thường giữa tuần. Lúc đó homestay ít khách, người dân có thời gian trò chuyện hơn. Hãy kiểm tra thời tiết và đường sá trước khi đi.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.