Ngoài các cộng đồng đông dân như Mông, Tày, Dao, vùng Hà Giang cũ còn là nơi sinh sống của nhiều dân tộc có số dân ít: Lô Lô, Pu Péo, Bố Y, Pà Thẻn, Cờ Lao, La Chí và một số cộng đồng khác. Nhiều cộng đồng chỉ tập trung ở một vài xã, có tiếng nói, trang phục và nghi lễ rất riêng.
Một số dân tộc như Pu Péo, Bố Y, Cờ Lao thuộc nhóm có dân số ít nhất cả nước, được Nhà nước có chính sách hỗ trợ riêng về giáo dục, y tế, bảo tồn văn hoá. Với họ, giữ được tiếng nói và nghi lễ của mình qua từng thế hệ là thách thức thật, không phải chuyện xa xôi.
Bài này giới thiệu từng cộng đồng ở mức những gì đã được ghi nhận rộng rãi, tránh những mô tả giật gân, và gợi ý cách đến thăm sao cho người được thăm có lợi chứ không chỉ người đi thăm.
Người Lô Lô ở Lũng Cú và Mèo Vạc
Người Lô Lô ở Hà Giang cũ sống tập trung quanh Lũng Cú (Đồng Văn cũ), nơi có làng Lô Lô Chải ngay dưới chân cột cờ, và một số thôn ở Mèo Vạc cũ. Nhà của họ phần lớn là nhà trình tường mái ngói, giống nhà người Mông về hình thức nhưng khác ở cách bố trí bên trong và các tập quán gắn với ngôi nhà.
Trang phục của phụ nữ Lô Lô là một trong những bộ trang phục công phu nhất vùng cao: áo, váy, khăn được ghép từ rất nhiều mảnh vải màu cắt thành hình tam giác, hình răng cưa, sắp xếp đối xứng, tạo thành những dải hoa văn rực rỡ. Làm một bộ trang phục như vậy mất rất nhiều thời gian, nên thường dành cho dịp lễ, Tết.
Người Lô Lô còn giữ trống đồng, dùng trong những nghi lễ quan trọng, nhất là tang lễ, thường theo cặp. Với cộng đồng, trống đồng là vật thiêng gắn với tổ tiên, không phải đồ trưng bày. Ở Lô Lô Chải hiện có nhiều gia đình làm homestay, giúp du khách có dịp ở lại, ăn cơm cùng chủ nhà và hiểu thêm về cộng đồng.
Người Pu Péo: một trong những cộng đồng ít người nhất
Người Pu Péo sống ở một số xã thuộc Đồng Văn và Yên Minh cũ, trong đó Phố Là là nơi được nhắc tới nhiều. Đây là một trong những dân tộc có dân số ít nhất Việt Nam. Vì sống xen với người Mông, người Tày, người Giáy, nhiều người Pu Péo nói được nhiều thứ tiếng, và đời sống hằng ngày không khác nhiều so với các cộng đồng xung quanh.
Điều đáng quý là người Pu Péo vẫn giữ được một số nghi lễ riêng, trong đó có những nghi lễ gắn với tổ tiên và mùa màng, cùng với trang phục mang nhiều lớp viền màu. Theo các tư liệu dân tộc học, trống đồng cũng có mặt trong đời sống nghi lễ của cộng đồng này. Các nhà nghiên cứu văn hoá thường đến Phố Là để ghi chép về tiếng nói và tập quán của người Pu Péo.
Với một cộng đồng nhỏ như vậy, mỗi người cao tuổi biết hát bài cổ, biết làm nghi lễ, là một kho tư liệu sống. Khi một người như thế mất đi mà chưa kịp truyền lại, một phần văn hoá cũng mất theo. Đó là lý do các chương trình ghi chép, truyền dạy tiếng nói, nghi lễ cho người trẻ ở những cộng đồng rất ít người được coi là việc cần làm sớm.
Người Bố Y và người Cờ Lao
Người Bố Y ở Hà Giang cũ sống ở vùng Quản Bạ. Trang phục, nhà cửa của họ có nhiều nét gần với người Giáy, người Tày ở thung lũng, nhưng tiếng nói và một số tập quán riêng. Người Bố Y làm ruộng nước ở những thung lũng nhỏ, trồng ngô, chăn nuôi, và nhiều gia đình sống xen với các cộng đồng khác trong cùng một thôn.
Người Cờ Lao sống rải rác ở Hoàng Su Phì và Đồng Văn cũ, thường xen với người Mông. Vì sống xen như vậy, nhiều người Cờ Lao nói tiếng Mông thành thạo, và người ngoài đi qua khó nhận ra đâu là thôn Cờ Lao nếu không được giới thiệu. Một số tập quán, nghi lễ, cách làm nhà, đồ gỗ của người Cờ Lao vẫn được giữ trong các gia đình.
Cả hai cộng đồng đều có số dân nhỏ và đều gặp chung thách thức: thế hệ trẻ học tiếng phổ thông ở trường, tiếng Mông, tiếng Tày ở chợ, nên tiếng mẹ đẻ có nguy cơ chỉ còn trong gia đình. Các lớp học tiếng dân tộc, các câu lạc bộ văn nghệ cộng đồng là những nỗ lực nhỏ nhưng cần thiết để giữ lại phần riêng ấy.
Người Pà Thẻn và người La Chí
Người Pà Thẻn sống ở Quang Bình và Bắc Quang cũ, ở vùng đồi thấp và trung bình. Họ được biết đến với nghề dệt vải tông đỏ rực, hoa văn hình học dày đặc, và với lễ nhảy lửa sau mùa vụ. Nhà của người Pà Thẻn thường là nhà đất hoặc nhà gỗ, sống gần các bản người Tày, người Dao.
Người La Chí cư trú chủ yếu ở Hoàng Su Phì và Xín Mần cũ, là những người góp phần lớn tạo nên ruộng bậc thang ở vùng này. Kỹ thuật dẫn nước bằng mương đất, máng tre từ khe suối trên cao xuống từng tầng ruộng là tri thức canh tác được tích luỹ qua nhiều đời. Người La Chí có lịch lễ riêng gắn với mùa lúa, trong đó có lễ cúng cơm mới khi lúa chín.
Cả hai cộng đồng đều có một phần đời sống gắn chặt với nông nghiệp truyền thống. Khi ruộng bậc thang trở thành cảnh quan du lịch, người La Chí và các cộng đồng làm ruộng ở Hoàng Su Phì, Xín Mần đứng trước câu hỏi: làm sao để du lịch mang lại thu nhập cho người làm ruộng, chứ không chỉ cho người bán vé, bán tour.
Một điểm chung của người Pà Thẻn và người La Chí là họ sống gần các cộng đồng đông hơn nên thường bị người ngoài nhầm. Khách đi qua thấy nhà đất, thấy ruộng bậc thang liền nghĩ đó là bản người Dao hay người Mông. Hỏi người dẫn đường một câu để biết mình đang ở bản của cộng đồng nào là cách tôn trọng tối thiểu.
Giữ tiếng nói và nghi lễ: ai đang làm, làm thế nào
Với các dân tộc có dân số rất ít, Nhà nước có những chính sách hỗ trợ riêng về học tập, y tế, nhà ở, sinh kế và bảo tồn văn hoá. Học sinh thuộc các cộng đồng này được ưu tiên trong tuyển sinh, cử tuyển; một số chương trình hỗ trợ ghi chép, sưu tầm dân ca, nghi lễ, trang phục. Chi tiết chính sách thay đổi theo từng giai đoạn, nên muốn tìm hiểu cụ thể cần tra văn bản hiện hành.
Bên cạnh chính sách, phần quyết định vẫn nằm ở chính cộng đồng. Ở nhiều thôn, những người cao tuổi tự đứng ra dạy con cháu hát bài cổ, làm trang phục, thực hành nghi lễ trong gia đình. Các đội văn nghệ thôn bản, các câu lạc bộ dân ca tập luyện để biểu diễn ở lễ hội, vừa giữ được vốn cũ vừa cho người trẻ một lý do để học.
Các nhà nghiên cứu, bảo tàng, người làm phim tư liệu cũng góp phần bằng cách ghi âm, ghi hình, viết sách về những cộng đồng này. Những tư liệu ấy, khi được làm cẩn trọng và trả lại cho cộng đồng, trở thành nguồn để thế hệ sau học lại. Du khách quan tâm có thể bắt đầu từ những ấn phẩm ấy trước khi đến, để khi gặp người thật đã có sẵn câu hỏi đúng.
Tóm tắt các cộng đồng ít người ở Hà Giang cũ
Bảng dưới tóm tắt nơi cư trú thường được nhắc và một nét văn hoá dễ nhận biết của từng cộng đồng. Nơi cư trú ghi theo tên huyện cũ để dễ định hướng, vì từ tháng 7/2025 cấp huyện đã bỏ:
| Cộng đồng | Nơi cư trú thường được nhắc | Nét văn hoá dễ nhận biết |
|---|---|---|
| Lô Lô | Lũng Cú (Đồng Văn cũ), một số thôn ở Mèo Vạc cũ | Trang phục ghép mảnh màu, trống đồng trong nghi lễ, nhà trình tường |
| Pu Péo | Một số xã ở Đồng Văn, Yên Minh cũ | Dân số rất ít, giữ nghi lễ riêng, trang phục nhiều lớp viền |
| Bố Y | Quản Bạ cũ | Gần người Giáy về trang phục, nhà cửa; tiếng nói riêng |
| Cờ Lao | Hoàng Su Phì, Đồng Văn cũ | Sống xen người Mông, nhiều người nói thạo tiếng Mông |
| Pà Thẻn | Quang Bình, Bắc Quang cũ | Vải dệt tông đỏ, lễ nhảy lửa |
| La Chí | Hoàng Su Phì, Xín Mần cũ | Ruộng bậc thang, dẫn nước bằng mương máng, lễ cơm mới |
Bảng chỉ là điểm khởi đầu. Mỗi cộng đồng có nhiều điều hơn một dòng mô tả, và cách tốt nhất để hiểu là nghe chính người trong cộng đồng kể.
Đến thăm cộng đồng ít người có trách nhiệm
Đi qua người dẫn đường địa phương. Một người dẫn đường là người trong vùng biết thôn nào đón khách, nhà nào làm homestay, lúc nào không nên đến. Họ cũng là cầu nối ngôn ngữ, giúp bạn hỏi chuyện mà không gây ngượng.
Không biến người dân thành "mẫu ảnh". Một cụ già mặc trang phục truyền thống không phải để bạn chụp. Hỏi trước, trò chuyện trước, và chấp nhận câu trả lời không. Nếu người được chụp muốn có ảnh, hãy tìm cách gửi lại.
Chi tiêu tại chỗ. Ăn cơm ở nhà dân, mua đồ thủ công, thuê người dẫn đường, ở homestay của gia đình trong thôn. Với một cộng đồng nhỏ, những khoản tiền ấy có ý nghĩa rất lớn.
Không hứa điều không làm. Đừng hứa gửi quà, gửi ảnh, quay lại giúp đỡ nếu không chắc làm được. Người dân nhớ những lời hứa ấy lâu hơn bạn nghĩ.
Kể lại có trách nhiệm. Khi viết hoặc đăng ảnh, gọi đúng tên dân tộc, tránh những từ như "bộ lạc", "người rừng", "kỳ lạ". Những chữ ấy làm tổn thương và lan đi rất nhanh.
Câu hỏi thường gặp
Dân tộc nào ít người nhất ở Hà Giang?
Trong các cộng đồng sống ở Hà Giang cũ, Pu Péo, Bố Y, Cờ Lao, Lô Lô thuộc nhóm có số dân ít. Pu Péo thường được nhắc là một trong những dân tộc có dân số ít nhất cả nước. Số liệu cụ thể nên tra theo các cuộc điều tra dân số chính thức.
Làng Lô Lô Chải có đón khách không?
Có. Lô Lô Chải nằm dưới chân cột cờ Lũng Cú, nhiều gia đình làm homestay trong nhà trình tường. Du khách có thể ở lại, ăn cơm cùng chủ nhà. Hãy giữ yên lặng vào buổi tối và tôn trọng sinh hoạt của những gia đình không làm du lịch.
Có thể xem trống đồng của người Lô Lô không?
Trống đồng là vật thiêng, dùng trong nghi lễ, thường được gia đình hoặc dòng họ cất giữ cẩn thận. Du khách không nên đòi xem. Một số bảo tàng và nhà trưng bày có hiện vật, tư liệu về trống đồng mà bạn có thể tham khảo.
Người Pà Thẻn sống ở đâu sau sáp nhập?
Người Pà Thẻn sống chủ yếu ở vùng Quang Bình và Bắc Quang của tỉnh Hà Giang cũ. Từ tháng 7/2025, các xã này thuộc tỉnh Tuyên Quang theo đơn vị hành chính mới; tên thôn, tên bản vẫn giữ nên hỏi đường không khó.
Vì sao tiếng nói của các dân tộc ít người dễ mai một?
Vì thế hệ trẻ đi học bằng tiếng phổ thông, đi chợ nói tiếng của cộng đồng đông hơn, đi làm xa nhà. Tiếng mẹ đẻ chỉ còn dùng trong gia đình, với người già. Khi không còn ai nói hằng ngày, tiếng nói mất dần qua vài thế hệ.